|
Mỗi năm thu 48 tỉ đồng từ chuyển giao công nghệ sinh học
Tại hội thảo về mạng lưới thông tin chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực công
nghệ sinh học (CNSH) châu Á, diễn ra trong hai ngày 27 và 28-1, GS, TSKH Trần
Duy Quý, viện trưởng Viện Di truyền nông nghiệp, cho biết mỗi năm VN thu được 48
tỉ đồng từ việc chuyển giao các thành tựu khoa học trong lĩnh vực CNSH.
Tuy nhiên, con số này mới chỉ gấp đôi so với số tiền
Nhà nước đầu tư cho nghiên cứu CNSH hằng năm. Theo ông Quý, để CNSH thực
sự góp phần vào phát triển kinh tế xã hội, doanh thu từ chuyển giao
thành tựu CNSH phải cao hơn 3-5 lần so với số tiền Nhà nước đầu tư mỗi
năm.
Vẫn theo ông Quý, việc VN tham gia vào mạng lưới thông tin
chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực CNSH châu Á (Binasia) từ năm nay chính là
một bước để phát triển ngành CNSH. Binasia là mạng lưới gồm 13 quốc gia. Khi
tham gia vào mạng lưới, các quốc gia được cung cấp những thông tin về công nghệ
mới, sản phẩm mới trong lĩnh vực CNSH nhằm thúc đẩy nghiên cứu, phát triển,
thương mại hóa thành tựu CNSH.
Bắt đầu được nghiên cứu từ những năm 1980, đến nay, các thành
tựu CNSH tại VN đóng góp chủ yếu trong các lĩnh vực nông nghiệp, thuỷ sản, y tế
thông qua việc tạo ra những giống cây, giống con mới, tạo ra công nghệ chẩn đoán,
sản xuất thuốc điều trị một số bệnh nan y... Theo ước tính đến năm 2010, các sản
phẩm CNSH sẽ đem lại khoảng 10.660 tỉ đồng mỗi năm.
Anh kêu gọi thúc đẩy chuyển giao công nghệ nhiên liệu sinh học cho các nước đang
phát triển
Cập nhật: 05/02/2008
Các nước phát triển cần thúc đẩy chuyển giao các công nghệ nhiên liệu sinh
học then chốt sang các nước đang phát triển, đó là lời kêu gọi của Hội Hoàng gia
Anh hôm 14/01/2008.
Bản báo cáo mang tựa đề: “Nhiên liệu sinh học bền vững: triển vọng và thách
thức” đã đánh giá các tác động môi trường, kinh tế và xã hội của nhiên liệu sinh
học và đưa ra một số yêu cầu cần thiết về nghiên cứu và phát triển nhằm cải tiến
tính hiệu quả của chúng, như gia tăng sản lượng và chất lượng của cây trồng dùng
để sản xuất nhiên liệu sinh học.
Các tác giả đã nhấn mạnh đến sự cần thiết của các cơ chế phù hợp nhằm tạo điều
kiện cho chuyển giao công nghệ và kêu gọi các bộ của Anh như Bộ Phát triển Quốc
tế bắt tay vào hành động.
“Do hầu hết các công nghệ nhiên liệu sinh học chủ yếu được phát triển tại các
quốc gia thuộc Tổ chức Phát triển và Hợp tác Kinh tế (OECD) và tại các nền kinh
tế đang nổi, ở đây cần có những cơ chế thích hợp để tạo điều kiện cho việc
chuyển giao công nghệ một cách có hiệu quả đến và giữa các nước đang phát triển.
Điều này sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo rằng nhiên liệu sinh học
được phát triển một cách bền vững, bất chấp những khác biệt về địa lý”, các tác
giả viết.
Theo công trình nghiên cứu trên, việc nghiên cứu nhiều hơn về những tác động môi
trường của nhiên liệu sinh học là điều cần thiết và không thể cân nhắc phát
triển nhiên liệu sinh học một cách hỗn hợp.
Jeremy Woods thuộc Trung tâm Chính sách Môi trường tại Imperial College,
London, một thành viên của Nhóm công tác soạn thảo Báo cáo phát biểu: “Một trong
những bức thông điệp then chốt của bản báo cáo là để nói rằng các loại nhiên
liệu sinh học không giống nhau. Việc bạn có thể đảm bảo đến mức độ nào để có
được một loại nhiên liệu sinh học “tốt” là vấn đề ưu tiên quan trọng tuyệt đối
đối với việc hoạch định chính sách ở thời điểm này”.
Công trình nghiên cứu còn đưa ra những vấn đề chính sách bổ sung. Đặc biệt là,
các tác giả đã nhấn mạnh đến sự cần thiết của các hệ thống chính sách tập trung
vào các yếu tố không chắc chắn liên quan đến môi trường, kinh tế, xã hội phát
sinh do phát triển nhiên liệu sinh học.
“Các chính sách tương lai cần mang nhiều tham vọng và có phạm vi rộng hơn so
với được dự báo vài năm trước đây. Ở đây cần có những những xúc tiến quốc tế và
sự hài hòa giữa các quy định, đặc biệt là những quy định về sản xuất và sử dụng
bền vững nhiên liệu sinh học cùng với các vấn đề thương mại đối với nguồn nhiên
liệu này”, bản Báo cáo viết.
Hôm 23/01/2008 Liên minh châu Âu (EU) đã công bố chỉ thị về năng lượng tái tạo
của mình, nhằm chính thức hóa kế hoạch đạt mức 10% nguồn nhiên liệu dùng trong
giao thông được sản xuất từ nhiên liệu sinh học.
Mục tiêu này làm nảy sinh những mối lo ngại rằng nó có thể gây tổn hại các
nước đang phát triển và môi trường. “Chỉ thị này là một bước tiến rất tốt. Tôi
cho rằng mục tiêu 10% là hoàn toàn hợp lý. Tuy nhiên, EU cần nghiêm túc hơn về
mức độ chi tiết trong các kế hoạch đảm bảo chắc chắn và xác thực mà họ kiến nghị”,
Woods nói.
VN đề nghị Úc chuyển giao công nghệ dự báo thời
tiết
Cập nhật lúc 23:43, Thứ Năm, 17/12/2009 (GMT+7)
Gặp Thủ tướng Kevin
Rudd
bên lề Hội nghị thế giới về biến đổi khí hậu tại Copenhagen, chiều 17/12,
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đề nghị Australia hỗ trợ chuyển giao các công
nghệ dự báo bão, nâng cao năng lực dự báo thời tiết cực ngắn, dự báo khí
hậu cho Việt Nam.
Thời gian qua, hai bên đã hợp tác chặt chẽ trong việc
đào tạo cán bộ, tổ chức nhiều hội thảo trong lĩnh vực khí tượng thủy văn
và biến đổi khí hậu.
Thủ tướng cũng đề nghị Úc xem xét sớm đàm phán thỏa
thuận lao động kỳ nghỉ và Hiệp định công nhận kết quả kiểm dịch, đồng
thời mở rộng hợp tác trong lĩnh vực đào tạo nghề, tài trợ xây dựng cầu
Cao Lãnh…
Thủ tướng Kevin Rudd cho biết, Úc rất coi trọng việc
hợp tác xây dựng cầu Cao Lãnh và sẽ thảo luận với Ngân hàng Phát triển
châu Á (ADB) để cùng hỗ trợ cho dự án này; đồng thời mong muốn hai nước
tăng cường hợp tác, trao đổi trên các diễn đàn quốc tế và khu vực, đặc
biệt là khi Việt Nam đảm nhiệm Chủ tịch ASEAN 2010.
Thủ tướng Kevin Rudd cũng nhất trí hai bên cần đẩy
nhanh chương trình hành động triển khai Đối tác toàn diện và sớm ký kết
bản ghi nhớ nhằm thúc đẩy cơ chế đối thoại quốc phòng an ninh.
Trước đó, Thủ tướng
Nguyễn Tấn Dũng có cuộc gặp với Tổng thống Israel S.Peres. Tổng thống
Israel cũng bày tỏ sẵn sàng chia sẻ hợp tác với Việt Nam trong các lĩnh
vực thế mạnh: nông nghiệp, công nghệ sinh học, y tế…
Nhật Bản: Đẩy mạnh chuyển giao công nghệ cho VN

Lễ ký kết thỏa thuận hợp tác chuyển giao công nghệ

Cập nhật lúc 11:07 - Thứ tư, 19/08/2009
Sự kiện Cty cung ứng giải pháp công
nghệ Global Innovators IIc (GLIN) chọn TP Đà Nẵng để triển khai công tác
chuyển giao công nghệ tiên tiến của Nhật Bản là điểm nhấn trong Diễn đàn
kinh tế Việt - Nhật vừa diễn ra tại Đà Nẵng.Báo cáo của Trung tâm
xúc tiến đầu tư khu vực miền Trung, cho thấy: Trong 55 dự án đã đầu tư vào
miền Trung – Tây Nguyên thì có tới 31/55 dự án nằm ở Đà Nẵng. Ông Lâm Quang
Huy - Phó Vụ trưởng, Giám đốc Trung tâm xúc tiến đầu tư tại miền Trung, cho
biết: kết quả này là bởi Đà Nẵng có rất nhiều lợi thế về vị trí địa lí, cơ
sở hạ tầng, nguồn nhân lực, cơ chế - chính sách... thu hút đầu tư nước
ngoài.
Điểm nhấn thu hút đầu tư Nhật Bản
Tại Diễn đàn kinh tế Việt - Nhật, hầu hết các DN tham gia đều cho rằng Đà
Nẵng - thành phố trung tâm miền Trung đã đi đầu trong cơ chế "một cửa liên
thông" để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho DN đầu tư vào Đà Nẵng. Từ năm
2000 cơ chế đầu tư một cửa đã được chính quyền Đà Nẵng đẩy mạnh. Tất cả các
nhà đầu tư làm thủ tục vào Đà Nẵng chỉ cần thông qua một đầu mối duy nhất là
Trung tâm xúc tiến đầu tư Đà Nẵng. UBND TP Đà Nẵng nâng vai trò vị trí của
Trung tâm xúc tiến đầu tư ngang cấp sở, trực thuộc UBND TP quản lý chứ không
trực thuộc Sở Kế hoạch - Đầu tư. Đây là điểm nhấn quan trọng để thực hiện
chính sách "một cửa liên thông" nhằm giải quyết nhanh chóng thủ tục đầu tư
cho các nhà đầu tư vào Đà Nẵng.
Đặc biệt, Đà Nẵng là địa phương duy nhất đã đặt trụ sở Văn phòng đại diện
tại Nhật Bản để đẩy mạnh mối quan hệ hợp tác giữa thành phố Đà Nẵng và Nhật
Bản trên các lĩnh vực đầu tư, thương mại, du lịch, phát triển nguồn nhân
lực... Sở Ngoại vụ Đà Nẵng làm cơ quan đầu mối liên lạc và phụ trách Văn
phòng Đại diện Đà Nẵng. Mặt khác, đến cuối năm 2009, Vietnam Airlines sẽ
triển khai đường bay Osaka - Đà Nẵng để tạo điều kiện thuận lợi, tiết kiệm
thời gian cho các DN Nhật đến với Đà Nẵng.
Thượng nghị sĩ Iwao Matsuda - Phó Chủ tịch Hội liên minh hữu nghị Việt -
Nhật cho rằng, Đà Nẵng nổi bật bởi chi phí nhân công rẻ, lao động ổn định,
trật tự an ninh tốt, có ý thức bảo vệ môi trường,... Thực tế, nhiều DN Nhật
Bản đầu tư vào Đà Nẵng đã hài lòng với kết quả có được.
Kết nối cung - cầu công nghệ
Ông Chu Ngọc Anh - Cục trưởng Cục Ứng dụng và Phát triển công nghệ, Bộ
Khoa học Công nghệ, cho biết: Giữa cục này và Cty Global Innovators IIc đã
phối hợp lựa chọn 150 DN sản xuất lớn nhất của Nhật tại VN để điều tra hiện
trạng và nhu cầu cung ứng các sản phẩm phụ trợ từ DN VN; khảo sát một số DN
điển hình của VN tại Đà Nẵng về nhu cầu công nghệ, kế hoạch kinh doanh các
sản phẩm được sản xuất với công nghệ chuyển giao từ Nhật Bản.
“Đến nay đã có 17 DN VN được các chuyên
gia Nhật Bản phối hợp với Cục Ứng dụng và Phát triển công nghệ khảo sát, đưa
vào chương trình kết nối cung - cầu về hợp tác và chuyển giao công nghệ. 11
đối tác Nhật Bản đã sẵn sàng kết nối với các DN VN” – ông Chu Ngọc
Anh cho biết.
Tuy nhiên, từ thực tế tại miền Trung, ông Hideo Hosoya - Tổng Giám đốc
Cty Mabuchi Motor, Chủ tịch Hiệp hội DN Nhật Bản tại Đà Nẵng cho rằng, một
trong những điểm hạn chế của khu vực này trong thu hút vốn đầu tư nước ngoài
là việc cung ứng tại chỗ về nguyên liệu, linh kiện, sản phẩm gia công chế
tạo như chi tiết khuôn... còn khó khăn, phải dựa vào nguồn từ nước ngoài
hoặc từ Hà Nội, TP HCM nên làm tăng chi phí vận chuyển.
Mặt khác, theo ông Nakamura - GĐ điều hành Cty GLIN, cho biết: Qua công
tác khảo sát cho thấy, nhiều DN VN hiểu khái niệm chuyển giao công nghệ còn
hạn hẹp. Họ thường nghĩ chuyển giao công nghệ là việc đơn thuần đưa một dây
chuyền công nghệ từ Nhật Bản sang VN. Có nhiều hình thức chuyển giao công
nghệ, như: Thông qua quan hệ Chính phủ hai nước, Bộ Khoa học - Công nghệ
thực hiện công tác chuyển giao công nghệ; DN lớn trực tiếp "nuôi dưỡng" DN
sản xuất phụ trợ dần chuyển giao toàn bộ công nghệ cho DN này; Trực tiếp
chuyển giao mua bán công nghệ giữa hai DN; Chuyển giao công nghệ gắn liền
với đào tạo sử dụng công nghệ bằng nhiều hình thức đào tạo khác nhau...
Để góp phần khắc phục hạn chế đó, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Nhật Bản tại
VN, ông Mituso Sakaba cho rằng, việc các chuyên gia Nhật Bản giúp phổ cập
các kỹ thuật cơ bản như kỹ thuật hàn (có liên quan đến tất cả các ngành chế
tạo) sẽ giúp ích cho sự phát triển ngành công nghiệp phụ trợ tại VN. Theo
nhận định của ông, việc hợp tác về kỹ thuật theo hình thức trên ở cấp tư
nhân giữa hai nước đang ngày càng phát triển, và điều đó sẽ góp phần tích
cực cho giao lưu kinh tế giữa Nhật - Việt ngày càng đa dạng hơn.
Cũng tại Đà Nẵng đã diễn ra lễ ký kết thoả thuận hợp tác giữa Cục Ứng
dụng và Phát triển công nghệ (Bộ KH - CN) với Sở KH - CN Đà Nẵng, và đặc
biệt là ký kết biên bản ghi nhớ về hợp tác chuyển giao công nghệ của Cty
Nagara - Viện Nghiên cứu MTI và Học viện đào tạo nghề Katanyagi của Nhật Bản
cho ba đơn vị của VN là Cty Vinaxuki, Viện Điện tử Tin học Tự động hoá và
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội.
Lĩnh vực nghiên cứu khoa học và
chuyển giao công nghệ:
- Biến tính gỗ và
polyme tự nhiên (xenluloza, tinh bột....);
- Cải tiến các
phương pháp nấu, tẩy trắng bột giấy và sản xuất giấy truyền thống;
- Nghiên cứu và
chuyển giao công nghệ sản xuất bột giấy từ phế thải nông-lâm nghiệp;
- Nghiên cứu và
chuyển giao công nghệ sản xuất hóa chất ngành giấy;
- Xử lý nước thải công
nghiệp giấy;
- Sản xuất etanol
sinh học từ nguyên liệu thực vật (gỗ và phi gỗ);
- Chuyến hóa sinh
khối thực vật (nhiệt phân, khí hóa gỗ, chế biến lá cây,...) thành nhiên
liệu sinh học và các sản phẩm có giá trị;
- Tham gia xây dựng các
Tiêu chuẩn Việt Nam
và Tiêu chuẩn
ngành, Đánh giá Phòng thí nghiệm đạt chuẩn ISO, VILAS... ngành giấy;
- Tư vấn kỹ
thuật-công nghệ trong lĩnh vực sản xuất, chế biến và sử dụng giấy, chế
biến hóa học gỗ, ván nhân tạo.
Sản phẩm và chuyển giao công nghệ: Lan Mokara - Kết quả đánh giá một số giống
lan Mokara (22-02-2008)
Lan Mokara là lòai lan lai
giữa ba giống lan Arachnis, Ascoentrum và Vanda. Mokara là loại lan đơn
thân, dễ trồng, tăng trưởng nhanh trong điều kiện khí hậu nóng ẩm. Lan
Mokara rất dễ nhân giống. Hệ số nhân giống cao. Hoa Mokara hình dáng hoa rất
phong phú, có nhiều màu sắc đẹp như màu hồng, đỏ, vàng chanh, vàng đồng,
cam, tím, trắng….
Mokara là nhóm giống chủ lực trong việc phát
triển diện tích và cung cấp sản phẩm hoa lan cắt cành tại TP. Hồ Chí Minh.
Hiệu quả của việc trồng hoa lan cắt cành rất cao, nhu cầu tiêu thụ của thị
trường nội địa và xuất khẩu cũng rất lớn. Hiện nay có rất nhiều giống Mokara
được đưa vào trồng ở các tỉnh phía nam nước ta. Trong đó có một số giống rất
thích nghi với điều kiện khí hậu, điều kiện trồng và chăm sóc. Nhưng một số
giống tỏ ra ít thích nghi, hay xuất hiện bệnh và ít siêng hoa. Năm 2006 và
2007, Trung tâm Công nghệ Sinh học đã tiến hành nhập nội và đánh giá một số
giống lan Mokara. Năm 2006 Trung tâm theo dõi 12 giống Mokara.
1.
Mok. Boonchoo Gold
2.
Mok. Chao Praya Gold
3.
Mok. Five Friend Ship Gold
4.
Mok. Full Moon
5.
Mok. Pink Spots
6.
Mok. Thailand Sun Spots
7.
Renantanda Azimah
8.
Kagawara Christie Low
9.
Mok. Đỏ lá quặt
10.
Mok. Luen New
11.
Mok. Luen Berger Gold
12.
Chark Kuan Orange
Mokara sau một năm trồng tại Trung tâm Công nghệ TP
Mok. Chark Kuan Orange
Mok. Luen New
Mok. Đỏ lá Quặt
Kết quả theo dõi sau 1 năm trồng chúng tôi
nhận thấy các giống Mok. Luen Berger Gold, Mok. Luen New, Mok. Đỏ lá quặt,
Chark Kuan Orange, Renantanda Azimah là các giống có hình thái cân đối., cây
không bị rụng lá chân, cây khoẻ, rễ to. Đặc biệt các giống này có thời gian
ra hoa sớm và siêng hoa. Trồng các giống naỳ có hiệu quả kinh tế cao. Ngoài
ra, giống Mok. Boonchoo Gold và Mok. Full Moon hoa đẹp, giá thành cao nhưng
thời gian ra hoa chậm, ít siêng hoa so với các giống trên. Các giống Mok.
Five Friend Ship Gold, Mok. Pink Spots, Mok. Thailand Sun Spots, Kagawara
Christie Low dễ bị bệnh, tuột lá chân, ra hoa chậm, cành hoa ngắn và ít
siêng bông.
Trên cơ sở kết quả khảo nghiệm các giống hoa
lan Mokara, chúng tôi nhận thấy chọn giống là một trong những yếu tố quan
trọng việc trồng lan Mokara.
Mok. Boonchoo Gold
Ren. Azimah
Mok. Luen Berger Gold
Ngoài công tác nghiên cứu
nhân nhanh các giống lan cung cấp ra thị trường, Trung tâm cũng nhận
thực hiện chuyển giao quy trình kỹ thuật nhân các giống lan và nhận nhân
giống các loại lan cho các cá nhân và đơn vị có nhu cầu.
Tư Vấn Chuyển Giao Công Nghệ Xử Lý Nước Thải Bằng
Phương Pháp Sinh Học Chi Phí Thấp Hiệu Quả Xử Lý Cao
Chức năng, nhiệm vụ và loại hình hoạt động KH&CN.2.1. Nghiên cứu ứng dụng và
triển khai các tiến bộ khoa
học kỹ thuật và
công
nghệ tiên tiến thuộc lĩnh vực
công
nghệ
sinh
học vào sản xuất và đời sống. 2.2. Hoàn thiện
công
nghệ, sản xuất, kinh doanh các chế phẩm
sinh
học phục vụ nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và xử lý môi trường.2.3.
Kinh doanh các trang thiết bị, vật tư, sản phẩm phục vụ nghiên cứu
sinh
học, ứng dụng trong nông nghiệp, thủy sản và môi trường.2.4. Tư vấn,
đào tạo và
chuyển
giao
công
nghệ trong lĩnh vực
công
nghệ
sinh
học và môi trường.2.5. Hợp tác liên kết với các tổ chức khoa
học
công
nghệ, các tổ chức sản xuất kinh doanh trong và ngoài nước để huy động
tiềm lực trí tuệ, vốn nhằm đưa nhanh các kết quả khoa
học
công
nghệ vào sản xuất và dịch vụ phục vụ đời sống xã hội.2.6. Triển khai
các dự án sản xuất và sản xuất thử nghiệm, tạo ra các sản phẩm mới, sản xuất
các chế phẩm
sinh
học phục vụ các ngành nông lâm ngư nghiệp và xử lý môi trường. 3.
Thành tựu chuyễn
giao
công
nghệ trong 5 năm gần nhất của tổ chức.- Nghiên cứu quy trình sản xuất
các chế phẩm
sinh
học phục vụ nông nghiêp, thủy sản và môi trường: chế phẩm bổ sung
thức ăn tôm cá - EMAS, chế phẩm xử lý phế thải hữu cơ - EMUNIV, chế phẩm xử
lý đáy, nước ao nuôi tôm cá EMUNIV.S, Men xử lý bể phốt – EMUNIV.PHÔT và
được ứng dụng trên cả nước.-
chuyển
giao quy trình sản xuất phân bón hữu cơ vi
sinh ở Thanh Hóa, Hưng Yên, Đăklăk, Gia Lai.- Hướng dẫn và cung cấp
chế phẩm dùng trong xử lý rác thải cho các
công ty Môi trường Đô thị ở Hà Nội, Quảng Ninh, Đà Nẵng, Nam Định.-
Tư vấn và giúp hộ dân tự sản xuất phân hữu cơ, nuôi trồng thủy sản rất nhiều
nơi trên cả nước. 4. Tổng số cán bộ có trình độ đại
học trở lên của tổ chức TT Cán bộ có trình độ đại
học trở lên Tổng số 1 Tiến sỹ 1 2 Thạc sỹ 2 3 Đại
học 8 Ngoài ra
công ty còn có đội ngũ cộng tác viên; chuyên gia nghiên cứu thuộc
khoa
sinh
học Trường Đại
học Khoa
học tự nhiên và các Viện, Trường, các đơn vị khoa
học khác tham gia thực hiện các nghiên cứu chuyễn
giao
công
nghệ. 5. Kinh nghiệm và thành tựu KH&CN trong 5 năm gần nhất liên
quan đến việc
chuyển
giao
công
nghệ của các cán bộ trực tiếp tham gia dự án (nêu lĩnh vực chuyên môn,
số năm kinh nghiệm, thành tựu tiếp nhận, triển khai
công
nghệ và chỉ đạo sản xuất kinh doanh)
công ty Cổ phần Vi
sinh Ứng dụng là đơn vị được các cán bộ nghiên cứu thuộc Bảo tàng
Giống Vi
sinh vật và Khoa
sinh
học - Trường Đại
học Khoa
học Tự nhiên, Đại
học Quốc gia Hà Nội, sáng lập theo nhu cầu ứng dụng khoa
học vào thực tiễn sản xuất đời sống và tạo thị trường cho các sản
phẩm khoa
học
công
nghệ vì vậy kinh nghiệm, số năm kinh nghiệm, các đề án chủ trì hoặc
tham gia của các cán bộ tham gia trong
công ty rất nhiều. Các thành tựu triển khai
công
nghệ và chỉ đạo sản xuất kinh doanh:-
chuyển
giao
công
nghệ trong các lĩnh vực xử lý rác thải -
chuyển
giao
công
nghệ trong các lĩnh vực xử lý nước thải-
chuyển
giao
công
nghệ trong các lĩnh vực xử lý phế thải nông nghiệp-
chuyển
giao
công
nghệ sản xuất phân bón hữu cơ vi
sinh- Tư vấn, thiết kế chế tạo thiết bị và hệ thông lên men dùng
trong sản xuất chế phẩm
sinh
học- Sản xuất các chế phẩm phục vụ sản xuất phân bón và xử lý môi
trường:+ Chế phẩm bổ sung thức ăn tôm cá - EMAS + Chế phẩm xử lý phế thải
hữu cơ - EMUNIV + Chế phẩm xử lý đáy, nước ao nuôi tôm cá - EMUNIV.S+ Men xử
lý bể phốt – EMUNIV.PHÔT. 6. Cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có liên quan đến
Đề tài, Dự án SXTN tuyển chọn:- Văn phòng: Diện tích 100m2- Nhà xưởng: Diện
tích nhà xưởng 200m2 gồm có: Phòng thí nghiệm (nghiên cứu và kiểm tra chất
lượng sản phẩm), Phòng lên men, phòng sấy chế phẩm, phòng phối trộn và đóng
gói chế phẩm.- Trang thiết bị chủ yếu: Hệ thống lên men bao gồm (3 nồi lên
men 80 lít, máy nén khí, hệ thống lọc khí sạch), tủ cấy vô trùng, tủ sấy, tủ
ấm, tủ lạnh sâu, máy ly tâm, máy lắc, máy nghiền, máy trộn, nồi khử trùng.
Đặc Biệt: Tư vấn cách sử dụng men Vi
sinh Đạt hiệu quả cao trong hệ thống xử lý nước thải, Cung cấp men vi
sinh xử lý nước thả
|