You are here: Home Tin tức Thông Tin BIONET Xét nghiệm ADN khi mang thai, mang bầu

::XET NGHIEM ADN::PHAN TICH ADN::XET NGHIEM HUYET THONG::

JA slide show

Xét nghiệm ADN khi mang thai, mang bầu

 

Xét nghiệm ADN khi mang thai, mang bầu

Nhờ vào những nghiên cứu và sự phát triển lớn mạnh của khoa học, việc xét nghiệm ADN huyết thống đã có thể tiến hành ngay từ khi người mẹ đang trong thời kỳ mang thai (mang bầu). Hiên nay, tại Bionet Việt Nam đối với việc xét nghiệm ADN huyết thống dành cho phụ nữ đang mang thai sẽ có 2 phương pháp như sau:

            I.      Phương pháp xâm lấn – Chọc dò ối:

Thực ra đối với phương pháp xâm lấn, cũng sẽ có 2 cách: chọc dò ối và sinh thiết gai nhau. Tuy nhiên về mức độ an toàn và tính phổ biến thì hiện nay phương pháp chọ dò ối được biết đến và áp dụng nhiều hơn.

Vậy nước ối là gì?

Nước ối là một môi trường giàu  chất dinh dưỡng, có khả năng tái tạo và trao đổi, giữ một vai trò quan trọng đối với sự sống còn và phát triển của thai nhi nằm trong bụng mẹ. Nước ối xuất hiện từ ngày thứ 12 sau thụ thai. Nước ối được tạo thành từ ba nguồn gốc: thai  nhi, màng ối và máu mẹ. 

Tại sao nước ối có thể dùng làm xét nghiệm ADN?

Sự tái hấp thu nước ối: Được thực hiện chủ yếu qua hệ tiêu hóa thai nhi. Từ tuần thứ 20 thai kỳ, thai nhi bắt đầu nuốt nước ối. Ngoài ra, nước ối còn được tái hấp thu qua da của thai nhi, dây rốn và màng ối.

Chính vì có sự tái hấp thu này nên trong nước ối sẽ có chứa các tế bào ADN của thai nhi sau khi luân chuyển trong cơ thể của thai nhi. Và có thể tách chiết, dùng những ADN này để làm xét nghiệm xác nhận quan hệ huyết thống và chẩn đoán các nguy cơ bệnh về di truyền mà thai nhi có thể mắc phải.

Thời điểm nào có thể chọc dò ối?

Tuổi thai phù hợp để chọc dò ối là từ tuần 16 đến tuần 22.

Bạn không nên vì nôn nóng muốn giải quyết vấn để mà đòi hỏi chọc dò ối sớm hơn thời gian này. Vì nếu chọc ối sớm hơn, lượn ADN của thai nhi trong dịch ối chưa đủ, việc xét nghiệm sẽ không tiến hành thuận lợi, có thể bạn sẽ được yêu cầu phải chọc ối lại.

Có nguy hiểm gì khi chọc dò ối không?

Dù hiện nay đây là phương pháp đang được sử dụng nhiều nhưng đã là phương pháp xâm lấn thì ít nhiều sẽ có 1 số nguy cơ tiềm ẩn như: tỉ lệ sảy thai có thể lên tới 1%, rò rỉ nước ối, nhiễm trùng tử cung, sinh non...

Đây cũng chính là nguyên nhân vì sao phương pháp này phải được chỉ định từ bác sỹ sản khoa sau khám thai, và thông thường chỉ khi nào có nghi ngờ về bệnh di truyền của thai nhi, và đánh giá giữa rủi ro của bệnh với rủi ro tiềm ẩn của chọc dò ối (sinh thiết gai nhau) thì bác sỹ mới đưa ra chỉ định.

Xem thêm: hướng dẫn thu mẫu nước ối trong xét nghiệm ADN

         II.      Phương pháp không xâm lấn (non-invasive) (Chỉ có duy nhất tại Bionet Việt Nam)

Để giảm thiểu đau đớn và nguy cơ rủi ro của phương pháp xét nghiệm trước sinh xâm lấn thì hiện nay trên thế giới đã ứng dụng phương pháp xét nghiệm huyết thống trước sinh không xâm lấn (Non- invasive Prenatal Paternity Test- NIPT): Lấy máu ngoại vi của người mẹ đang mang thai và của người cha giả định để làm xét nghiệm ADN xác định mối quan hệ huyết thống cha-con của thai nhi với người cha giả định đó.

Cơ sở khoa học: ADN ở nhau thai giống hệt với ADN của thai nhi. Khi các tế bào nhau thai già chúng sẽ chết tự nhiên và giải phóng ADN vào máu và ADN tự do này sẽ đi vào hệ thống tuần hoàn của người mẹ (thai phụ). ADN tự do của thai lẫn với ADN tự do của người mẹ, trung bình chúng chiếm khoảng 10% tổng ADN tự do (số lượng ADN tự do của thai nhi trong máu người mẹ khác nhau giữa các thai phụ và tuổi thai).

Trong xét nghiệm này, dữ liệu ADN (SNP profile) của thai nhi sẽ đươc so sánh với dữ liệu ADN của người cha giả định tại 317,000 chỉ thị ADN (ADN maker) xác định chính xác nếu có sự trùng khớp giữa người cha giả định và thai nhi. Kết quả từ người cha giả định được so sánh với hơn 5000 cá nhân không có mối quan hệ ngẫu nhiên khác. Nếu xác suất mà người cha giả định có chứa các chỉ thị di truyền cần thiết của 1 người cha sinh học lớn hơn 99.9% khi so sánh với các cá nhân ngẫu nhiên thì mối quan hệ cha con được kết luận. Ngược lại nếu xác suất mà người cha giả định chứa các chỉ thị di truyền cần thiết của 1 người cha sinh học không tốt hơn so với một cá nhân không liên quan thì quan hệ huyết thống cha con được loại trừ.

Thời điểm có thể tiến hành xét nghiệm: Từ tuần thai thứ 10 trở đi, tốt nhất là từ tuần thứ 12.

Các nguy cơ tiềm ẩn: Vì loại mẫu được sử dụng xét nghiệm chỉ là máu tĩnh mạch từ cánh tay của cha và mẹ nên không gây ảnh hưởng gì đến sức khỏe của em bé cũng như bản thân thai phụ.

Theo như những thông tin được trình bày, tựu chung thì dù là phương pháp nào đi nữa thì cơ sở khoa học cơ bản vẫn là dùng ADN của thai nhi so sánh với ADN của người cha để đưa ra kết luận về mối quan hệ huyết thống. Điểm mấu chốt ở đây là tách chiết được ADN của thai nhi là có thể làm được xét nghiệm, vì thế cả 2 phương pháp trên đều có độ chính xác và cho ra xác suất mối quan hệ huyết thống là như nhau. Tuy nhiên, nếu xét về mặt công nghệ thì với mục đích vừa xác nhận được mối quan hệ huyết thống, phương pháp thu mẫu đơn giản, vừa đảm bảo được sự an toàn và sức khỏe của người mẹ cũng như thai nhi thì phương pháp không xâm lấn là lựa chọn đáng để quý khách hàng cân nhắc và lựa chọn. Tư vấn qua hotline Hà Nội: 0988.68.30.82 (Ths. Hoài), hotline Hồ Chí Minh: 01678.161.999