You are here: Home Bài viết về ung thư Nguyên nhân ung thư vú

::XET NGHIEM ADN::PHAN TICH ADN::XET NGHIEM HUYET THONG::

JA slide show

Nguyên nhân ung thư vú

 

Ung thư vú đang trở nên phổ biến tại các nước đang phát triển. Tại Việt Nam, năm 1998, ở nữ giới, ung thư vú là loại ung thư có tần suất cao nhất ở Hà Nội với xuất độ chuẩn hóa theo tuổi là 20,3 (trên 100 000 dân) và cao thứ hai ở Thành phố Hồ Chí Minh với xuất độ chuẩn hóa theo tuổi là 16 (trên 100 000 dân) sau ung thư cổ tử cung mà xuất độ chuẩn hóa theo tuổi là 28,6 (trên 100 000 dân)

Đây là một bệnh hết sức phức tạp mà trong nhiều năm qua đã có nhiều nghiên cứu về nguyên nhân, bệnh sinh và điều trị. Một điều quan trọng cần phải nhận thấy là việc phát hiện sớm ung thư vú qua sự tầm soát ở những phụ nữ bình thường đã làm thay đổi rõ ràng bệnh sử tự nhiên của bệnh cũng như cải thiện đáng kể tiên lượng bệnh.

 

2 gien BRCA1 và BRCA2 bị đột biến kết hợp với nhau sẽ làm tăng nguy cơ bị ung thư vú lên tới 80%. Ảnh: Medicineworld

NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH UNG THƯ VÚ:

Theo UICC thì tỷ lệ ung thư vú ở đàn ông ít hơn 100 lần so với phụ nữ. 3. Còn theo 1 thì nguy cơ tương đối của ung thư vú giữa phụ nữ và nam giới là 150. Nghĩa là ung thư vú ở nam giới ít gặp hơn nữ giới rất nhiều lần. Dưới đây chỉ nói về những yếu tố nguy cơ ung thư vú ở phụ nữ.

Yếu tố gia đình

Gen ung thư vú có thể di truyền cho con qua đường bố hoặc đường mẹ. Những phụ nữ mà trong gia đình có nhiều người bị ung thư vú, hoặc có 2 người rất gần, tức mẹ và chị gái, bị bệnh, thì có thể có nguy cơ thừa hưởng gen bệnh. Khi nhận phải gen bệnh, người phụ nữ có khoảng 85% mắc ung thư vú.

Ăn nhiều mỡ

Tần suất mắc Bệnh ung thư vú ở từng quốc gia tương ứng với lượng mỡ trong chế độ ăn của quốc gia đó. Ở Nhật, ung thư vú là một trong những bệnh tiến triển nhanh nhất, và sự tăng tỷ lệ bệnh có liên quan chặt chẽ đến thói quen ăn này càng nhiều mỡ hơn. Chế độ ăn tốt nhất để Phòng ngừa Ung thư vú là chế độ ăn trong đó lượng mỡ ăn vào ít hơn 20% tổng số calorie nhận được.

Hormone và thể hình

Phụ nữ thừa cân thuộc dạng nội hình (hình quả táo) tích trữ mỡ thừa ở vùng bụng và các cơ quan nội tạng, có nguy cơ ung thư vú cao hơn những phụ nữ thừa cân dạng trung bình (hình quả lê) trữ mỡ thừa ở hông và đùi, hoặc dạng ngoại thái (hình cọng giá). Liệu pháp hormone thay thế, trong đó người phụ nữ dùng Thuốc có chứa oestrogen sẽ làm thay đổi nồng độ hormone và có thể làm tăng nguy cơ ung thư ở một số ít người. Hành kinh sớm; không Có con hoặc có con muộn, và mãn kinh trễ cũng có thể làm tăng nguy cơ.

Nguy cơ từ môi trường sống

Hút thuốc, ô nhiễm công nghiệp, khói xe và hoá chất như các thuốc nông nghiệp dính trên thức ăn đều được xem là có vai trò quan trọng trong việc phát triển ung thư vú.

Người ta nhận thấy nguy cơ bị ung thư vú tăng lên ở những bệnh nhân sau:

Yếu tố

Nguy cơ thấp

Nguy cơ cao

Tuổi

30–34

70–74

Lần đầu có kinh

>14

<12

Thuốc tránh thai

Không dùng

Có dùng

Tuổi có con lần đầu

<20

≥30

Thời gian cho con bú

≥16

0

Số lần sinh con

≥5

0

Tuổi khi cắt buồng trứng

<35

Không cắt

Tuổi mãn kinh

<45

≥55

Dùng estrogen thay thế

Không dùng

Đang dùng

BMI cơ thể sau mãn kinh

<22,9

>30,7

Tiền sử gia đình có người bị K vú

Không

Nồng độ estradiol trong máu

Thấp

Cao

Ngoài ra, nguy cơ ung thư vú cũng gặp ở những nhóm người sau:

  • Bệnh nhân sống ở các quốc gia vùng Bắc Mỹ và Bắc Âu

  • Có tiền sử phơi nhiễm bức xạ ion hóa

  • Những phụ nữ không có con. Người ta cho rằng cho con bú kéo dài trên 6 tháng có tác dụng bảo vệ chống ung thư vú ở các phụ nữ trẻ.

  • Uống rượu, tiếp xúc với thuốc trừ sâu (đặc biệt là DDT).

 

Bionet trích từ Internet

 

 

Bạn có biết

 

Xét nghiệm nhóm máu ABO có biết được huyết thống?
Xem thêm

Màu mắt có thể biết được huyết thống?
Xem thêm

Cần phải có sự đồng ý của khách hàng khi làm một mẫu ADN?
Xem thêm

ADN có thể được sử dụng để giải quyết vấn đề hình sự?
Xem thêm

Xem thêm

 

Độ chính xác 100% vì quy trình xét nghiệm kép
Xem thêm

Quy trình xét nghiệm huyết thống đã được giải thích cụ thể
Xem thêm