You are here: Home Tin tức Tin Tổng Hợp Dự án KOPIA

::XET NGHIEM ADN::PHAN TICH ADN::XET NGHIEM HUYET THONG::

JA slide show

Dự án KOPIA


“Tổng kết hoạt động năm thứ 2 (7/2010-8/2011) và Kế hoạch năm thứ 3 (8/2011-7/2012) của Dự án KOPIA”


Trong khuôn khổ nội dung hợp tác giữa Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (VAAS) và Tổng Cục Phát triển Nông thôn Hàn Quốc (RDA) thực hiện Dự án Nông nghiệp Quốc tế của Hàn Quốc tại Việt Nam (Dự án KOPIA). Dự án gồm 03 hợp phần: Hợp phần Nghiên cứu Cây nhiên liệu sinh học được triển khai tại Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển cây có củ, Viện CLT-CTP; Hợp phần nghiên cứu sản xuất Rau tại Viện Nghiên cứu Rau quả; Hợp phần Quản lý điều hành tại VAAS.
 
Sau hai năm triển khai và đạt được những kết quả tốt, hai ngày 15-16 tháng 9 năm 2011, Dự án đã tổ chức thành công Hội nghị “Báo cáo tổng kết kết quả hoạt động năm thứ 2 từ tháng 7/2010-8/2011 và Kế hoạch năm thứ 3 từ 8/2011-7/2012 của Dự án KOPIA” tại Ba Vì, Hà Nội.
Tham dự Hội nghị có Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam Nguyễn Văn Bộ, Phó giám đốc Nguyễn Văn Tuất, Trưởng Ban Quản lý Dự án ông Cho Weon Dea, Lãnh đạo Viện CLT-CTP, Viện Nghiên cứu rau quả, Ban KH&HTQT và các cán bộ trực tiếp tham gia tại các hợp phần, Các chuyên gia và trợ lý nghiên cứu Hàn Quốc, Đại diện lãnh đạo và chuyên viên Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Hải Dương và Hòa Bình.
 
Dưới sự chủ trì của phó giám đốc Nguyễn Văn Tuất đại diện các hợp phần đã báo cáo kết quả đạt được sau hai năm thực hiện và đề xuất kế hoạch hoạt động cho năm thứ 3 của Dự án. Các báo cáo cũng đã nhận được sự trao đổi, đóng góp ý kiến của đại biểu tham dự Hội nghị về mục tiêu và kết quả đạt được cũng như kế hoạch hoạt động cần tiến hành trong năm tiếp theo. Đối với Hợp phần cây nhiên liệu sinh học, các đại biểu cho rằng những nghiên cứu về đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển, đặc điểm hình thái của các loài cây nhiên liệu sinh học như sắn, mía, khoai lang, cao lương ngọt hầu hết đã được nghiên cứu. Vì vậy, năm tới 2011-2012, đã xác định mục tiêu là sản xuất ethanol, vậy nên tập trung nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất ethanol như năng suất, hàm lượng tinh bột, hàm lượng đường, khả năng chuyển hóa, hiệu quả kinh tế.…


Phát biểu tại Hội nghị, TS.Cho Weon Dae, Giám đốc Dự án KOPIA cho rằng chúng ta nên chọn các loại cây có hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất ethanol, xây dựng kế hoạch sản xuất nhiên liệu sinh học ở Việt Nam để xuất khẩu sang Hàn Quốc. TS cho biết giá 01 kg ethanol ở Việt Nam hiện nay là 1,3USD trong khi tại Hàn Quốc là 5USD vì vậy trong thời gian tới ông và cộng sự sẽ nghiên cứu xem loại cây nào có hiệu quả để trình Đại sứ Hàn Quốc tại Việt Nam và cho triển khai trong thời gian sớm nhất.
 
 
Sau khi nghe đại diện các hợp phần báo cáo, hội nghị thảo luận, ý kiến trao đổi, đóng góp của các đại biểu tham dự Hội nghị, Phó giám đốc VAAS Nguyễn Văn Tuất kết luận:
 

- Đối với hợp phần Rau: Đề nghị xem xét có thể đăng ký 01-02 giống rau có năng suất cao, chất lượng để mở rộng ra sản xuất. Nên tranh thủ cơ hội hợp tác, nghiên cứu học hỏi và tiếp nhận những công nghệ mới, nhập các loài rau có triển vọng từ Hàn Quốc. Nên tăng cường quảng bá các giống tốt, mới như hội nghị khách hàng để đánh giá nhu cầu sử dụng, giới thiệu kết quả nghiên cứu, kết quả dự án. Tiếp tục duy trì, thu thập công nghệ, giống của Hàn Quốc.

 
- Đối với Hợp phần Cây Nhiên liệu sinh học: Cần tập trung nghiên cứu hệ thống chuyển hóa sản xuất ra ethanol với mục tiêu cuối cùng là hiệu quả kinh tế. Ta đã học được gì từ Hàn Quốc nhất là kinh nghiệm. Cần tập trung nghiên cứu các chỉ tiêu liên quan đến năng suất, chất lượng phục vụ mục tiêu sản xuất nhiên liệu sinh học (ethanol)..


 

Tổng kết Hội nghị, Giám đốc VAAS Nguyễn Văn Bộ chỉ đạo

- Đối với Hợp phần Cây Nhiên liệu sinh học: Cần tập trung nghiên cứu hệ thống chuyển hóa sản xuất ra ethanol với mục tiêu cuối cùng là hiệu quả kinh tế. Đề nghị Hợp phần cây Nhiên liệu sinh học trình Ban quản lý Dự án và TS. Cho Weon Dae hai hướng nghiên cứu mới: 1. Chuyển từ Xenlulo ra Ethanol (hiệu quả hơn từ đường). 2. Việt Nam có bờ biển dài, nhiều nơi nuôi tảo để sản xuất ethanol (điều này cần nghiên cứu).
 
- Đối với Hợp phần Rau: Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra được những giống, công nghệ tốt, phù hợp cũng như những giống xấu. Vụ đông 2011, cần tiến hành trình Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận giống để mở rộng ra sản xuất, quảng bá những giống tốt, nhân nhanh và giới thiệu ra sản xuất. Hiện nay sản xuất rau ở Việt Nam còn nhiều hạn chế ngay cả về khâu giống, nếu bổ sung được các nguồn gen/giống rau mới có chất lượng ra sản xuất thì có ý nghĩa cao.
 
- Đối với Hợp phần Quản lý điều hành: Báo cáo đã trình bày khá chi tiết về kết quả của hợp phần như giám sát, đánh giá các hoạt động của dự án, tổ chức các hội thảo, hội nghị, tiếp nhận các chuyên gia, học viên từ Hàn Quốc sang hợp tác nghiên cứu tại Việt Nam cũng như cử cán bộ quản lý, nhà khoa học Việt Nam sang công tác và học tập trao đổi kinh nghiệm tại Hàn Quốc. Tuy vậy, thời gian tới cần có đánh giá sâu hơn về ý kiến của các nhà khoa học, học viên Hàn Quốc trong quá trình công tác tại Việt Nam như: kết quả thu được trong thời gian công tác là gì, điều kiện làm việc, sinh sống tại Việt Nam đã đáp ứng được đến đâu, có những hạn chế gì cần khắc phục…
 

 BIONET trích  từ Thu Hương – Ban Thông tin - VAAS